Ở Việt Nam rắn thường được sử dụng để làm món ăn bồi bổ và dùng để làm thuốc chữa bệnh. Các bộ phận của rắn được dùng là: thịt rắn, nọc rắn và mật rắn. Sau đây là một số phương pháp giúp chữa bệnh từ thịt rắn.

Ngâm rượu rắn làm thuốc giảm đau, nhứt: 6g thịt rắn hổ mang, ngũ gia bì, quy nhân, thiên ma, tần giao, khương hoạt, phòng phong mỗi loại 12g. Ngâm rượu trắng hoặc nấu uống để trị đau xương khớp, phong tê thấp.

Trị kinh phong ở trẻ em: 60g rắn hổ mang ngâm rượu bỏ xương và da, 63g rết ướp rượu nướng , rắn đen ngâm rượu bỏ da và xương. Tất cả nghiền thành bột, uống mỗi ngày 3 lần với rượu nóng.

Trị phong ngứa: 8g rắn hổ mang, thuyền thoái 80g, nghiền thành bột. Ké đầu ngựa 20g, hy thiêm 20g nấu uống với 4g bột rắn đã nghiền. Duy trì trong 2 tuần để có kết quả.

Rắn làm thuốc gồm nhiều loại, thường là những loài rắn độc, người ta hay dùng 3 loài rắn độc mang tên rắn hổ mang, rắn cạp nong, rắn cạp nia, nhưng những tên đó nhiều khi lại được dùng để chỉ nhiều loài rắn khác nhau, cần chú ý phân biệt.

Ở Việt Nam, các nước Đông nam Á và châu Đại dương có tập quán bắt rắn, nuôi rắn. Rắn với nhiều bộ phận được dùng làm thuốc: Thịt rắn, mật rắn, nọc rắn (đặc biệt nọc rắn của họ rắn hổ), xác rắn lột (xà thoái).

Những con rắn hay dùng ở Việt Nam:

1. Rắn hổ mang: tên hổ mang còn gọi là hổ lửa, hổ phì, con phì, hổ đất, rắn mang kính. Có hai chi rắn khác nhau ở nước ta mang tên hổ mang có tên là chi Naji và chi Agkistrodon.

2. Rắn cạp nong: còn có tên là rắn mai gầm, có nơi gọi là rắn mai gầm vàng, rắn đen vàng, rắn vòng vàng. Rắn cạp nong thường sống ở cả đồng bằng và miền núi, con rắn này rất đặc biệt ở chỗ thân nó hơi hình ba cạnh, gồm những khoanh đen và vàng vòng quanh cả bụng.

3. Rắn cạp nia: Hay rắn mai gầm bạc, còn gọi là rắn đen trắng, rắn hổ khoang, rắn vòng bạc. Loài rắn này thường ngắn hơn loài cạp nong. Màu rắn đen xanh hay nâu sẫm có những khoanh màu trắng hay trắng vàng, khoanh màu trắng hẹp hơn khoanh màu đen,.

Phân bố: những con rắn dùng làm thuốc được phân bổ rộng rãi ở miền Bắc và miền Nam, đồng bằng hay rừng núi đều có.

Y dược học cổ truyền phương Đông dùng thịt, mật và xác rắn lột; Dược học hiện đại dùng nọc rắn để bào chế thuốc với biểu tượng con rắn nhả nọc vào cốc thuốc. Với các loài rắn có nọc độc, nếu cắn người rất dễ gây tử vong, vì vậy cần có biện pháp phòng ngừa và điều trị tích cực, đặc biệt ở những nơi chăn nuôi rắn và ở các vùng đầm hồ sông nước có nhiều rắn độc.

Bộ phận dùng và thành phần hóa học:

Thịt rắn (xà nhục): có protein và acid amin, chất mỡ, saponoid
Mật rắn (xà đởm): có cholesterin, acid palmitic, a. stearic, a. cholic…
Xác rắn lột (xà thoái) có oxyt titan và oxyt kẽm
Nọc rắn: chất độc thuộc nhóm zootoxin, protein, albumin, kẽm, Ca, Mg, enzym

Theo Đông y, các loại rắn cạn có vị ngọt, mặn, tính ôn, có độc; vào can tỳ.
Xà đởm vị ngọt hơI cay và không đắng; vào phế. Tác dụng giảm ho giảm đau
Xà thoáI vị ngọt mặn, tính bình, hơI tanh; và kinh can. Tác dụng kháng khuẩn, chống viêm giảI độc.

Nọc rắn có tác dụng giảm đau chống viêm, chống hình thành huyết khối nên dùng chữa đau thần kinh, ung thư mà không gây nghiện

Công năng chủ trị: Xà nhục có tác dụng khu phong trừ thấp, trấn kinh, trừ co giật. Dùng cho các trường hợp bại liệt, đau nhức xương khớp, viêm khớp, phong hàn thấp tý, trẻ em sốt cao co giật, lở ngứa, dị ứng, co giật uốn ván.
Liều dùng cách dùng: 1 con rắn; dùng kết hợp với các dược liệu hoặc nấu, hầm, ngâm, ướp.
Kiêng kỵ: Không dùng cho người âm hư hoả vượng, người huyết hư.

Cách dùng rắn làm thuốc:

1. Hoạt lạc, giảm đau:

+ Rượu Rắn Hổ mang: Thịt rắn Hổ mang 6g, quy thân 12g, ngũ gia bì 12g, khương hoạt 12g, thiên ma 12g, tần giao 12g, phòng phong 12g. Ngâm rượu uống hoặc sắc uống. Dùng trong chứng bệnh phong thấp làm trở ngại kinh lạc, khớp xương đau nhức lâu ngày không khỏi. Ngoài ra còn trị phong thấp tê bại.

+ Rượu rắn: Rắn hổ mang 1 con, rắn cạp nong hay cạp nia 1 con, rắn ráo 1 con, cẩu tích 50g, tiểu hồi 30g, hà thủ ô đỏ 80g, trần bì 30g, kê huyết đằng 120g, ngũ gia bì 80g, thiên niên kiện 80g, đường kính 660g, rượu ethanol 600 4 lít, rượu ethanol 400 vừa đủ 10 lít. Chữa phong tê thấp, đau xương nhức cơ, bán thân bất toại, bàn tay bàn chân đổ mồ hôi. Mỗi lần dùng 15 – 20 ml, uống trước khi đi ngủ.

2. Trừ phong, hết kinh giật: Dùng cho trẻ em bị kinh phong, sài uốn ván, co rút gân.

+ Rắn Hổ mang 63g (ngâm rượu bỏ da và xương), rết 63g (tẩm rượu nướng), rắn đen (ô tiêu xà) ngâm rượu bỏ da và xương. Nghiền chung thành bột. Ngày uống 2 – 3 lần, mỗi lần uống 8g, chiêu với rượu hâm nóng. Trị sài uốn ván, cổ ưỡn cong, thân thẳng cứng.

+ Rắn Hổ mang bỏ đầu bỏ đuôi, lòng, ruột, nướng sấy khô. Nghiền thành bột. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 4g, chiêu với rượu loãng. Trị trẻ em tê bại (thời kỳ phục hồi sức).

3. Tiêu phong, khỏi ngứa:

+ Cao khu phong: Rắn hổ mang 8g, bạc hà 8g, thiên ma 12g, kinh giới 12g. Nghiền thành bột, trộn đều với rượu và mật, làm thành cao. Chia uống 2 lần trong ngày. Trị phong tê liệt, ngứa khắp người.

+ Rắn hổ mang 80g, thuyền thoái 80g; nghiền thành bột mịn để riêng. Lấy hy thiêm 20g, ké đầu ngựa 20g; sắc lấy nước và uống với 4g bột thuốc trên. Uống liền trong 2 tuần lễ. Trị ngứa vàng da.

4. Người ta nghiên cứu nọc rắn để bào chế thuốc có tác dụng giảm đau kéo dài: kem bôi tại chỗ (Vipratox- Đức, Viprosalum – Nga, Najatox – Việt Nam) chữa thấp khớp, viêm cơ, viêm dây thần kinh…; dạng thuốc tiêm (Viperalgin – Tiệp khắc) tác dụng giảm đau, nhất là đau do ung thư.

5. Mật rắn được dùng làm thuốc trị ho do phong, đau lưng, nhức đầu kinh niên: Thuốc “Tam xà đởm” gồm mật của rắn hổ mang, rắn cạp nong hoặc cạp nia, rắn ráo, trần bì và 1 số dược liệu khác; chữa ho, đau bụng, tiêu chảy do phong hàn. Thuốc cũng có tác dụng với người viêm đa khớp, đau nhiều về mùa rét, đau có sốt nhẹ.

6. Xác rắn đốt thành tro, trộn với dầu rán củ ráy dại và nghệ vàng, chữa phụ nữ bị nứt đầu vú, chữa mụn nhọt.

Món ăn bài thuốc từ con rắn:

– Thịt rắn nướng: Thịt rắn hổ (Bạch hoa xà nhục) đã lột da bỏ ruột thái lát để sẵn. Chảo đất nung đặt trên bếp tro nóng đỏ, vẩy ít nước dấm, cho thịt rắn vào nướng, đậy kín, đảo các lát thịt 3 – 5 lần cho chín. Chấm với nước chấm và gia vị khi ăn. Dùng cho các trường hợp bại liệt, lở ngứa nổi ban dị ứng.

– Chả rắn xương sông lá lốt: Rắn 1 – 2 con. Lột da bỏ ruột, băm nhỏ với xương sông, lá lốt, thêm muối mắm gia vị, nặn thành viên, rán chín. Dùng cho các trường hợp đau nhức xương khớp, lở ngứa, ban chấn dị ứng. Tuần ăn 2 – 3 lần.

– Cháo rắn: Rắn 1 con, gạo tẻ 150g. Lột da bỏ ruột, chặt bỏ đầu, chặt thành đoạn, nấu với gạo tẻ thành cháo, thêm gia vị, rau thơm, tiêu ớt. Dùng cho các trường hợp bại liệt, đau nhức chi thể, kinh giật, lở ngứa. Tuần ăn 1 – 2 lần.

– Thịt rắn hầm rễ tiêu: Thịt rắn 250g, rễ cây hạt tiêu 50g, Rắn bỏ đầu ruột, làm sạch chặt miếng; rễ cây hạt tiêu rửa sạch cắt đoạn, thêm gừng, hành, dấm, gia vị, nước lượng thích hợp. Đun to lửa cho sôi, đun nhỏ lửa cho chín nhừ. Chia ăn 2 – 3 lần trong ngày. Dùng cho các trường hợp viêm sưng khớp, lở ngứa, bại liệt.

Lưu ý:

Những người hay bị dị ứng, người không được uống rượu như: bị bệnh đường tiêu hoá, tăng huyết áp, phụ nữ có thai….. Rượu rắn có tính ấm nóng, những người thuộc nhiệt chứng (tạng nhiệt, máu nóng) không nên sử dụng. Rượu rắn tuy tốt với người bị phong thấp, tuy nhiên không nên lạm dụng, chỉ nên dùng 10 ngày cho 1 đợt và mỗi ngày chỉ uống khoảng 25ml vào bữa cơm tối. Về thịt rắn có sách khuyên người tiêu hoá không tốt không nên dùng…

Theo: Sức khỏe & Đời Sống